THE NUN VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

Bài viết phần nhiều mang tính chủ quan và duy ý chí nên sẽ rất vui nếu có thêm những bình luận cùng nhau trao đổi. Ad đội ơn! ^^

Hôm nay (07/09/2018), The Nun – Ác Quỷ Ma Sơ chính thức ra rạp, mang theo cả tấn mong chờ, hy vọng của fan phim kinh dị cho suốt 9 tháng trời chưa có lấy một thương hiệu sáng giá “cân” team thể loại này, hoặc nếu có, thì một, là hiện tượng bất chợt vụt sáng như sao trời (A Quite Place), không thì hai, “rụng nụ” sớm ngay ải kiểm duyệt. (Ghost Story, Slender Man, Truth Or Dare,…)

Mang theo bao kỳ vọng, cùng sự háo hức, The Nun có ưu điểm cực lớn mà bất kì nhà phát hành nào cũng muốn nhìn thấy ở khán giả của mình dành cho sản phẩm, nhất là trong thời buổi, thị trường phim ảnh cạnh tranh ngày một cao.

Tuy nhiên, quan tâm đổ dồn, ít nhiều cũng không tránh khỏi những cái nhìn săm soi, cùng những nghi vấn to bự dành cho hình tượng được giới thiệu là “chương đen tối nhất trong lịch sử kinh dị”.

Vậy, để là “chương đen tối nhất…”, The Nun cần vượt qua thách thức nào?

 

1.Vừa là tiền truyện (prequel) vừa là phim riêng (spin off), liệu có là lợi thế?

Như đã biết, dòng thời gian của The Nun diễn ra vào 1952, trước cả các sự kiện trong Annabelle: Creation (1955), Annabelle (1967), The Conjuring (1971) và The Conjuring 2 (1976). Đây được xem là hướng đi đúng của “dòng chảy” franchise (thương hiệu phim nhiều phần) khi nó: một, vẫn đảm bảo được số lượng lớn fan trung thành từ những phần trước, nhằm đảm bảo doanh thu;  hai, lôi kéo thêm tập khách hàng mới từ lời mời của nhóm cũ; và ba, tạo nên thương hiệu truyền thông tạo đà cho những dự án kế tiếp. Với ba lợi ích tuyệt vời ấy, chẳng trách khi nói, thời đại này là thời đại của những phim thương hiệu.

Và trong franchise, để xác định chính xác vị trí mỗi phần, giới bình luận chia ra một vài thuật ngữ quen thuộc, cơ bản gồm:

Sequel (hậu truyện): là câu chuyện tiếp nối dòng thời gian (timeline) từ phần trước, ví dụ: The Conjuring 2 là câu chuyện tiếp diễn sau The Conjuring 1, Toy Story 1 ra trước, kế là 2, và sau cùng là 3. Fast 1 -> Fast 2 -> rồi lần lượt 3,4,5,6 và 7 ra đời, tương tự với các series khác.

Prequel (tiền truyện): ngược với sequel, prequel có mốc thời gian xảy ra trước phần đầu tiên, ví dụ: Insidious: The Last Key là phần thứ 4 ra mắt vào 2018, nhưng cốt truyện của nó, lại diễn ra trước những sự kiện trong Insidious 1 hồi 2010. Hay gần nhất Annabelle: Creation (2017) tuy “sinh sau đẻ muộn” nhưng lại là nguồn cơn của Annabelle (2014), bởi thế nên mới có chuyện, nhiều người xem xong thắc mắc đoạn kết phim sao mà chưng hửng.

Spin Off (phim riêng): trong dây chuyền tiền truyện, hậu truyện kia chắc chắn sẽ có vô số nhân vật đến và đi: có người mờ nhạt quên luôn, cũng có kẻ vì đặc biệt vượt trội ở một lĩnh vực, hoặc chỉ đơn giản là quá được công chúng yêu thích thì ngay lập tức, theo quy luật “vắt sữa”, studio bóc họ ra, tạo thành phim riêng đáp ứng ngay nhu cầu. Chúng ta đã có Minions (trong Despicable Me), có Puss In Boots (trong Shrek 2), có Penguins Of Madagascar (trong Madagascar), hay gần ngay trước mắt là Annabelle trong vũ trụ kinh dị The Conjuring.

Trở lại vấn đề, Valak đã có màn “chào sân” khá ấn tượng trong The Conjuring 2 (2016). Sau đó, dường như chưa an tâm với dự án, James Wan tiếp tục dò lòng người xem bằng vài cảnh ngắn ngủi xuất hiện chị trong Annabelle: Creation (2017), để rồi The Nun ra đời, giải tỏa bao nghi vấn về giai thế, cũng như chính thức là phần prequel và spin off trong vũ trụ kinh dị này.

Tuy nhiên, chẳng biết The Nun sẽ giải quyết câu chuyện về Valak ra sao khi bài học nhãn tiền Annabelle, phần spin off trước đó,  vẫn còn nóng hổi.

Còn nhớ khi The Conjuring 1 ra mắt, đã nhanh chóng tạo nên cơn sốt kinh dị thời bấy giờ. Khán giả một phần ám ảnh vì cốt truyện “có thực”, phần khác vì tò mò đến phấn khích câu chuyện về “nàng” búp bê má đỏ Annabelle ở đầu phim. Ngay lập tức, rất chóng vánh, một năm sau, Annabelle (2014) chính thức ra rạp, hứa hẹn là phần spin off thành công, “vắt sữa” phòng vé. Nhưng hỡi ôi, với cách kể chuyện chậm rãi, lan man và motif hù dọa có phần quen thuộc, Annabelle (2014) bỗng chốc hóa bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường. Giả sử nếu không có cái tên James Wan làm bảo chứng, có lẽ phim đã không lết nổi điểm 5 trên IMDb (thấp nhất trong bốn phần) cũng như, thu về 256 triệu đô toàn cầu (vẫn thấp nhất trong bốn phần)

Một bước lùi đáng kể.

Giải thích cho vấn đề trên, thấy rõ ngay sự khác biệt đến từ ghế đạo diễn. James Wan qua phim này, lùi về vai trò sản xuất, tức để mặc nội dung cho John R.Leonetti chỉ đạo. Với profile đồ sộ về vai trò cinematographer (đạo diễn hình ảnh) nhưng lại khá khiêm tốn về Director (đạo diễn), dễ hiểu tại sao Annabelle (2014) mờ ảo, ảm đạm trong khung hình nhưng lại dông dài về tình tiết.

Thứ hai là về thời gian. Annabelle phát hành sau The Conjuring (2013) đúng 1 năm, khoảng thời gian khá gấp để mọi thứ thật sự chín muồi. Cảm giác như, làn sóng trông chờ phần phim riêng về Annabelle là điều nằm ngoài dự kiến nên ngay khi có những phản hồi vượt xa mong đợi, ekip nhanh nhanh chóng chóng, đẩy phim ra rạp cho kịp trào lưu khi nó chưa thật sự thành hình.

The Nun lần này, cũng tương tự cấu trúc: James Wan làm gì-đó-không-phải-đạo-diễn và một ai-đó “trám” chỗ. Nhưng lần này, sẽ là Corin Hardy, một đạo diễn trẻ, ít nhất là trong mắt mình, khi “gia tài” kinh nghiệm của anh khá nhiều các phim trong vai trò chỉ đạo nhưng phần đông là những tựa phim ngắn, The Nun kì này được xem là dự án “nặng kí” thứ hai của anh sau The Hallow (2015) vốn mình mới nghe lần đầu.

Nhưng dẫu sao cũng là một điểm sáng.

Lợi thế thứ hai là thời gian. Như đã nói ở trên, Annabelle ra rạp cảm giác chỉ là phương án “chữa cháy”, tranh thủ cơn sốt đang lên từ người xem. Nó vẫn ổn nếu là tựa kinh dị độc lập, nhưng đây là James Wan và vũ trụ The Conjuring, nàng búp bê má đỏ xứng đáng có màn “ra mắt” hãi hùng hơn (mà quả thực, sang Annabelle:Creation (2017), nó làm tốt hơn hẳn). The Nun thì ở thế ngược lại khi dù tạo được hình tượng khá ám ảnh cho người xem, cũng có cho riêng mình cộng đồng fan hâm mộ cùng hàng loạt poster fanmade, nhu cầu được thưởng thức một phim riêng về Valak đã có, khéo ngang ngửa như hồi Annabelle nhưng có lẽ tránh vết xe đổ kì rồi, James Wan vẫn ghìm hàng và đợi hai năm sau, tức hiện giờ, mới “tự tin khoe cá tính” cho chị ma-sơ.

Chưa kể, biên kịch của phim kì này sẽ một tay James Wan đảm nhận. Cần nhớ, lần gần nhất James vừa đạo diễn kiêm biên kịch là trong The Conjuring 2. Và dĩ nhiên, ai cũng biết phim thành công như thế nào.

Như vậy, tuy là phần prequel thuật lại nguồn gốc của Valak, vừa là phần phim riêng tiếp theo nữa sau Annabelle, The Nun có lẽ lợi thế hơn rất nhiều so với người chị búp bê má đỏ tên Na họ Beo khi: 1/Được chỉ đạo bởi một đạo diễn trẻ profile chỉ thuần về đạo diễn, 2/Có thời gian lâu hơn để tập trung xây dựng tuyến truyện, và quan trọng, 3/Được viết bởi chính James Wan – cha đẻ của bầu trời kinh dị Conjuring.   

2.Nỗi sợ, bài toán khó nhằn

Bên cạnh bài toán con người, The Nun sẽ đem đến trải nghiệm ám ảnh cho người xem bằng cách nào khi xung quanh, nhan nhản những phim cùng thể loại cứ ào ạt ra rạp, sử dụng liên tục một motif jump scare?

Thông thường, để tạo sự sợ hãi, biên kịch sẽ có hai hướng khai thác: tình huống bất ngờ đi cùng với câu chuyện.

Tình huống bất ngờ, cái mình hay gọi là jump scare, thường sẽ là yếu tố được sử dụng để bổ trợ cho cốt truyện chính thêm phần hãi hùng. Nó đến khi không gian trong phim im lặng, và nó đi khi bạn đã giật mình sau vài tiếng động với âm lượng vừa đủ lớn. Chỉ tiếc, yếu tố này dường như đang bị lạm dụng một cách quá đà từ các tựa phim kinh dị kinh phí thấp, thứ xuất hiện đầy rẫy thời gian gần đây. Và như một hệ quả, nó triệt tiêu bản tính ngây thơ của người xem, hình thành dần bản năng phòng vệ tự nhiên mỗi khi có dấu hiệu jump scare sắp tới.

Mà xem kinh dị, biết trước rồi thì còn gì hay L ?

Như vậy, bỏ qua jump scare, cái làm người xem có thể rùng mình, ấn tượng khó phai nhất vẫn là câu chuyện của nó, yếu tố chính của bất kì dòng phim kinh dị nào. Điều này  đã  được khẳng định với Get Out, với Ghost Story (bị cấm), với The Purge (hình như cũng bị cấm?), hay gần đây là Hereditary gây xôn xao cộng động ghiền kinh dị mấy nay (phim này còn chả thấy nhập về).

May mắn, The Conjuring (cả một lẫn hai cùng các phim spin off) của James Wan là số ít hội tụ đủ hai yếu tố này một cách cân bằng và hợp lý. Chỉ với lời mào đề “based on a true story” đầy sức nặng, tự dưng, phim của Wan mang lại sự tò mò ghê gớm chứ chưa cần xét đến nội dung. Cùng với cách phân bổ đúng thời điểm các màn jump scare, không phải vô cớ mà The Conjuring có thể tạo ra làn sóng fan trung thành lớn đến vậy.

Và The Nun tới đây sẽ là thành viên tiếp theo gia nhập vũ trụ này. Chỉ không biết, liệu sau những câu chuyện “true story”, nay tới một nhân vật “lấy cảm hứng” thì liệu chuyện phim viết ra, có đủ sức giữ nỗi sợ sau khi ra rạp? Còn jump scare, liệu vẫn giữ nguyên motif cũ hay sẽ là một sáng tạo rất riêng khác của James Wan?

3.Kết luận

Tóm lại, trong bối cảnh thiếu hụt một tựa phim kinh dị sáng giá, The Nun bỗng hiện lên là làn gió mát thổi vào bao tâm hồn fan kinh dị đang héo úa vì đợi chờ. Những câu hỏi đặt ra, cốt chỉ để gửi đến các bạn sự đa dạng về góc nhìn, cũng như, vài đặc trưng chuyển động của dòng phim kinh dị hiện nay. Bởi gì thì gì, vui, buồn, yêu, ghét đã có đầy rẫy những phim khác đáp ứng nhu cầu, thì tại sao “sợ” lại không xứng đáng có cho mình một tựa phim dành riêng cho nó? 

Điện ảnh, thiết nghĩ cần lắm sự mở rộng tự do.